Bài này hơi dài. Nhưng anh em nào đang tìm hiểu FM, hoặc cũng đang làm nghề theo hướng phối hợp nhiều phương pháp, có thời gian thì đọc hết rồi cùng trao đổi. Tôi nghĩ sẽ có vài chỗ đáng để mình ngồi lại suy nghĩ thêm.
Gần đây tôi thấy Fascial Manipulation – FM được khá nhiều anh em làm trị liệu quan tâm, tìm hiểu và ứng dụng. Bản thân tôi cũng đã dành khá nhiều thời gian tìm hiểu, đối chiếu và ứng dụng một phần tư duy, cách nhìn của FM vào quá trình làm nghề.

Phải nói rằng đây là một phương pháp rất hay.
Khi nghiên cứu kỹ hơn, tôi nhận ra FM bổ sung cho mình khá nhiều điều. Một số vấn đề trước đây tôi đã gặp trong thực tế, đã xử lý theo kinh nghiệm hoặc nhìn dưới góc độ cơ, khớp và chuỗi vận động, đến khi tiếp cận FM thì lại có thêm một hệ thống để lý giải rõ hơn.
Tôi không tự nhận mình nghiên cứu FM sâu bằng những người đã dành nhiều năm chuyên về hệ này, càng không đặt mình ngang với những người xây dựng và phát triển phương pháp. Nên những điều tôi chia sẻ trong bài là góc nhìn cá nhân của Nguyễn Chính, được hình thành sau quá trình tìm hiểu, ứng dụng FM rồi đặt nó cạnh nhiều phương pháp tôi đã học, nghiên cứu và sử dụng trong những năm làm nghề.
Anh em nào đi sâu FM hơn, nếu thấy còn điểm nào cần bổ sung thì cứ chia sẻ thêm. Tôi rất trân trọng những trao đổi chuyên môn như vậy.
Qua quá trình đó, tôi ngày càng thấy rõ một điều: Mỗi phương pháp đều có cái hay riêng. Nhưng cơ thể thường rộng hơn hệ lý luận của riêng một phương pháp.
Nội dung chính
- 1 ĐIỀU TÔI THẤY HAY Ở FM KHÔNG PHẢI LÀ NHỮNG CHẤM TRÊN BẢN ĐỒ
- 2 TÌM ĐÚNG ĐIỂM LÀ TỐT, NHƯNG CƠ THỂ ĐÃ THAY ĐỔI ĐẾN ĐÂU?
- 3 CƠ ĐÃ NHẢ MÀ LẠI CO TRỞ LẠI, PHÍA SAU NÓ CÓ THỂ CÒN CHUYỆN CỦA KHỚP, CỘT SỐNG VÀ THẦN KINH
- 4 ĐÚNG ĐIỂM RỒI, TẠI SAO TÔI VẪN QUAN TÂM ĐẾN CẢ VÙNG MÔ VÀ KHÍ HUYẾT?
- 5 MỖI PHƯƠNG PHÁP CHO MỘT GÓC NHÌN, CÁI KHÓ LÀ BIẾT PHỐI HỢP CÓ LÝ DO
ĐIỀU TÔI THẤY HAY Ở FM KHÔNG PHẢI LÀ NHỮNG CHẤM TRÊN BẢN ĐỒ
Nếu chỉ nhìn những hình FM với khá nhiều đường và điểm đánh dấu, người mới tiếp xúc rất dễ hiểu đơn giản rằng đau ở đâu thì tra bản đồ, tìm điểm tương ứng rồi tác động.
Thực tế hệ Stecco không đơn giản như vậy.
Ở tầng cơ bản, FM tổ chức vận động theo Myofascial Unit – MFU, đơn vị cơ – mạc, các hướng vận động và những chuỗi liên quan. Trong đó có CP – Centre of Perception, vùng biểu hiện triệu chứng theo mô hình FM, và CC – Centre of Coordination, trung tâm phối hợp được dùng trong quá trình kiểm tra và lựa chọn vùng tác động. Các hướng vận động được hệ thống hóa như AN, RE, ME, LA, IR, ER…
Người làm còn phải khai thác diễn tiến vấn đề, xem hướng vận động nào đau hoặc hạn chế, thực hiện movement verification, rồi dùng palpation verification để sờ kiểm chứng vùng nghi ngờ trước khi lựa chọn CC phù hợp.
Ở tầng tiếp theo còn có sequence, CF – Centre of Fusion, diagonal, spiral… Tức FM chính thống vốn đã có một quá trình đánh giá, hình thành giả thuyết và kiểm chứng, chứ không phải một bảng tra “đau chỗ này thì day chỗ kia”.
Chính cách nhìn này là phần tôi đánh giá rất cao. Bởi người bệnh chỉ cho mình nơi họ cảm thấy đau. Nhưng nơi đau chưa chắc đã phản ánh hết câu chuyện đó.
Mình còn phải nhìn hướng vận động nào đang lỗi, chuỗi nào đang tham gia, điểm cần kiểm tra có nhất thiết nằm ngay chỗ đau hay không, rồi sau tác động cơ thể thay đổi thế nào. Điều này khá gần với một nguyên tắc tôi vẫn dùng trong quá trình trị liệu: không vội đóng khung vấn đề vào đúng vị trí người bệnh đang chỉ, mà phải lần xem phía sau còn mắt xích nào đang kéo, đang giữ.
Đây cũng là một phần khá rõ trong cách Nguyễn Chính – Y Cốt Liên Khoa nhìn một ca thực tế: điểm đau rất quan trọng, nhưng nó phải được đặt trong mối liên hệ với vận động và cả chuỗi xung quanh.
Vì vậy tôi thấy FM cho mình một bản đồ rất đáng học.
Nhưng tôi vẫn nhấn mạnh một câu:
Bản đồ dùng để định hướng cho bàn tay kiểm tra, chứ không phải để thay thế bàn tay kiểm tra.
TÌM ĐÚNG ĐIỂM LÀ TỐT, NHƯNG CƠ THỂ ĐÃ THAY ĐỔI ĐẾN ĐÂU?
Các hệ có bản đồ càng rõ thì người mới học càng dễ có cảm giác mình đã có sẵn đáp án.
✔️ Đau vai thì mở hình.
✔️ Đau cổ thì dò đường.
✔️ Tìm được vài điểm liên quan, tác động vào đó, người bệnh thấy nhẹ hơn.
Như vậy là tốt. Kết quả tạo ra thì phải ghi nhận. Nhưng tìm được một điểm tạo ra thay đổi chưa đồng nghĩa mình đã đọc hết được cơ thể đó.
🆙 Ví dụ một người đau vai khi đưa tay lên.
Theo logic FM, mình kiểm tra hướng vận động đang lỗi, lần theo đơn vị cơ – mạc và sequence liên quan, sau đó sờ kiểm chứng các CC đáng nghi. Tác động xong, đau giảm và tay đưa lên cao hơn rõ rệt. Và điểm vừa xử lý rõ ràng có giá trị.
Tới đây, tôi không thích đặt câu hỏi theo kiểu “thế đã đủ chưa?”, bởi nghe rất giống mình đang đứng ngoài để chấm điểm phương pháp. Tôi quan tâm theo một hướng khác:
Đỡ được bao nhiêu?
➕ Đau giảm rồi, chức năng vận động thay đổi được đến đâu?
➕ Động tác trước đó bị giới hạn giờ trở lại được bao nhiêu?
➕ Kết quả ấy duy trì thế nào?
️🎯 Và từ mức cải thiện hiện tại, liệu mình còn có thể giúp người bệnh đỡ thêm được nữa không?
️🎯 Nếu chức năng đã trở lại tốt và tình trạng đang thay đổi hợp lý thì không cần cố làm thêm chỉ để chứng minh mình biết nhiều kỹ thuật.
️🎯 Ngược lại, khi vẫn còn khả năng cải thiện thêm, tôi sẽ tiếp tục kiểm tra xem phần nào đang giữ lại kết quả.
✅ Bả vai còn vận động chưa thuận?
✅ Khớp vai còn thiếu hướng nào?
✅ Cột sống ngực vẫn cứng?
✅ Cơ sâu phía dưới còn ghì?
✅ Một mắt xích khác trong chuỗi vẫn kéo?
Đây cũng là điều trước đây tôi từng viết riêng trong bài “Tìm đúng điểm gốc bệnh thôi, nhiều khi vẫn chưa đủ”. Bài đó đi sâu hơn vào câu chuyện một điểm có thể rất quan trọng, nhưng phía sau nó vẫn còn những lớp mô, vùng liên quan và các yếu tố khác đang góp phần giữ vấn đề.
Xem thêm : Tìm đúng điểm gốc bệnh thôi, nhiều khi vẫn chưa đủ
Tôi cũng đã có một bài phân tích sâu hơn về chữ “đỡ”: cùng là đỡ nhưng đỡ được bao nhiêu, chức năng thay đổi thế nào, có nhanh quay lại không và kết quả giữ được bao lâu.
Nếu muốn đọc kỹ hơn phần này, có thể xem bài “Cùng là ‘đỡ’ – nhưng đỡ bao nhiêu %, mất bao lâu và giữ được bao lâu?”. Ở đó tôi tách riêng chuyện mức thay đổi, chức năng, thời gian và khả năng duy trì kết quả để nhìn chữ “đỡ” rõ hơn.
Xem thêm : Cùng là “đỡ” – nhưng đỡ bao nhiêu %, mất bao lâu và giữ được bao lâu?
❓ Trong bài này tôi chỉ muốn giữ lại một câu hỏi:
Từ kết quả đã có, liệu mình còn giúp cơ thể thay đổi tốt hơn nữa được không? Nếu còn thì tiếp tục tìm.
CƠ ĐÃ NHẢ MÀ LẠI CO TRỞ LẠI, PHÍA SAU NÓ CÓ THỂ CÒN CHUYỆN CỦA KHỚP, CỘT SỐNG VÀ THẦN KINH
️🎯 Đây là phần tôi đặc biệt quan tâm trong thực tế làm nghề.
Người quen làm mô mềm thường chú ý rất nhiều đến cơ.
➕ Cơ căng thì giải.
➕ Điểm co thì xử lý.
➕ Làm xong cơ mềm, người bệnh nhẹ đi.
Nhưng nếu một thời gian sau nhóm cơ ấy lại nhanh chóng co giữ trở lại, tôi thường hỏi:
Tại sao Cơ nó cứ phải co?
Một đoạn cột sống vẫn mất vận động, trạng thái mà trong thực hành nhiều người quen gọi là vênh kẹt, khớp vai còn hạn chế hoặc nhịp vai – bả chưa thuận đều có thể tạo ra những tín hiệu cảm giác bất thường từ khớp và mô quanh khớp.
Khớp, bao khớp, dây chằng, cơ, đĩa đệm và nhiều cấu trúc quanh cột sống đều có đầu vào cảm giác đi về hệ thần kinh. Khi vùng đó tiếp tục đau hoặc bị kích thích cơ học, hoạt động thần kinh – cơ quanh vùng cũng có thể thay đổi.
Vì vậy, cơ đã được làm mềm nhưng tín hiệu khiến cơ thể duy trì phản ứng bảo vệ vẫn còn thì cơ hoàn toàn có thể tăng trương lực và co giữ trở lại.
Đĩa đệm cũng là một ví dụ cần hiểu cho đúng.
Phình hoặc thoát vị đĩa đệm đủ mức có thể làm hẹp không gian quanh rễ và gây chèn ép rễ thần kinh.
Nhưng cơ chế đau do thoát vị không chỉ phụ thuộc vào mức chèn cơ học. Thành phần viêm từ đĩa đệm cũng có thể kích thích rễ thần kinh, nên mức độ đau và kích thích thần kinh đôi khi không tỷ lệ hoàn toàn với kích thước khối thoát vị.
Nói theo cách đời cho dễ hình dung:
➕ Có thể có chèn ép rõ. Cũng có trường hợp mức ép không lớn nhưng vùng đĩa đệm và rễ vẫn đang bị kích thích.
➕ Khi hệ thần kinh liên tục nhận tín hiệu đau hoặc kích thích, cơ thể thường thay đổi cách vận động và hoạt động của các nhóm cơ để bảo vệ vùng đang khó chịu.
🆗 Thế nên làm cơ rất kỹ rồi mà nguồn kích thích phía sau chưa thay đổi thì cơ có thể lại co.
Đây chính là một trong những lý do tôi coi nắn chỉnh và phục hồi vận động của khớp – cột sống là một mắt xích quan trọng.
Trong cách nhìn của Y Cốt Liên Khoa, nắn chỉnh không đơn giản là bẻ cho phát ra tiếng. Mà tôi muốn biết đoạn nào thực sự mất vận động, hướng nào đang bị hạn chế, khớp nào vênh kẹt theo đánh giá thực hành, cơ xung quanh phản ứng ra sao rồi mới cân nhắc cách tác động.
Nếu vận động khớp được phục hồi phù hợp và yếu tố kích thích cơ học giảm đi, phản ứng của các nhóm cơ quanh đó cũng có thể thay đổi.
⚠️ Riêng khi xuất hiện dấu hiệu gợi ý rễ thần kinh bị ảnh hưởng rõ như yếu tiến triển, tê lan tăng, rối loạn vận động hoặc các dấu hiệu thần kinh đáng ngại thì phải phân biệt và kiểm tra y tế phù hợp, chứ không quy hết cho “kẹt đốt” rồi tiếp tục nắn.
🔙 Chiều ngược lại cũng đáng để ý.
➕ Khớp đã vận động tốt hơn mà cơ sâu vẫn bó, lớp mô quanh đó vẫn lì, cả vùng vẫn ghì chặt thì phần mô vẫn còn việc phải làm.
➕ Cơ có thể là nơi mình nhìn thấy sự co cứng, nhưng chưa chắc cơ là lý do cuối cùng khiến nó cứ phải co trở lại.
️🎯 Đây là một phần mà người làm thiên nhiều về cơ rất dễ bỏ sót.

ĐÚNG ĐIỂM RỒI, TẠI SAO TÔI VẪN QUAN TÂM ĐẾN CẢ VÙNG MÔ VÀ KHÍ HUYẾT?
Một CC hoặc một điểm co cứng có thể rất quan trọng. Nhưng xung quanh nó vẫn là cả một vùng cơ thể sống.
➕ Lớp cơ nông phủ phía ngoài.
➕ Cơ sâu bên dưới đang ghì.
➕ Nhóm cơ kế cận tham gia giữ tư thế.
➕ Độ trượt giữa các lớp mô chưa thuận.
➕ Khớp nằm giữa cả hệ đó vẫn vận động chưa tốt…
Khi kiểm tra thấy cả một khối đang bó, tôi không muốn thu toàn bộ vấn đề về đúng một chấm.
Trong cách làm của Nguyễn Chính – Y Cốt Liên Khoa, tùy trạng thái thực tế tôi có thể phối hợp giải cơ sâu, xử lý rộng vùng co bó, nạo thông, ép dẫn hoặc những cách tác động phù hợp để vùng mô được thả tốt hơn.
Mục tiêu ở đây không dừng lại ở việc làm một bó cơ mềm xuống. Tôi còn quan tâm đến độ trượt giữa các lớp mô, khả năng vận động và sự lưu thông của cả vùng.
Máu mang oxy, glucose, acid amin cùng nhiều chất cần thiết cho hoạt động tế bào, chuyển hóa và quá trình sửa chữa mô. Vì vậy khi vùng mô bớt co bó, vận động thuận hơn và điều kiện tuần hoàn tại chỗ tốt hơn, cơ thể cũng có một môi trường thuận lợi hơn cho quá trình phục hồi và tái tạo mô diễn ra dần dần.
Nếu diễn đạt theo Đông y thì đây cũng là một phần của việc làm cho khí huyết trong vùng được lưu thông thuận hơn.
Tôi không coi “khí huyết” và “vi tuần hoàn” là hai khái niệm hoàn toàn giống nhau. Hai hệ có ngôn ngữ và cách lý giải riêng.
Nhưng trong thực tế làm nghề, tôi vẫn quan tâm tới cả trạng thái co bó của mô lẫn sự lưu thông trong vùng. Bởi một vùng đã co giữ lâu ngày đâu phải cứ chạm đúng một điểm là ngay lập tức mọi thứ đều trở lại như cũ.
➕ Mô cần thời gian phục hồi.
➕Các lớp mô cần lấy lại độ trượt.
➕ Cơ phải trở về cách hoạt động hợp lý hơn.
➕ Khớp phải vận động thuận hơn.
➕ Tuần hoàn đảm nhiệm việc vận chuyển oxy và dinh dưỡng cần cho hoạt động, sửa chữa và phục hồi của mô.
➕ Rồi cơ thể còn phải thích nghi dần với cách vận động mới.
Sau khi xử lý cả vùng phù hợp, người bệnh thường không chỉ nói mỗi câu “đỡ đau”. Mà họ có thể cảm nhận vùng đó nhẹ hơn, thoáng hơn, mềm hơn, người dễ chịu và “đã” hơn.
Mặc dù cảm giác “đã” không phải tiêu chuẩn duy nhất để đánh giá hiệu quả. Nhưng khi nó đi cùng giảm đau, vận động tốt lên và chức năng thay đổi thì đó là một phản hồi đáng quan sát.
Điều tôi hướng tới vẫn là: Đỡ được bao nhiêu, chức năng trở lại thế nào, liệu còn cải thiện thêm được nữa không và kết quả giữ được ra sao.
MỖI PHƯƠNG PHÁP CHO MỘT GÓC NHÌN, CÁI KHÓ LÀ BIẾT PHỐI HỢP CÓ LÝ DO
Qua nhiều năm làm nghề, tôi đã tìm hiểu và ứng dụng khá nhiều phương pháp ở những mức độ khác nhau. Điều tôi nhận thấy là mỗi hệ thường được xây dựng trên một cách lý giải riêng.
✔️ FM giúp mình nhìn sâu hơn vào fascia, MFU, hướng vận động, CC, CF và chuỗi phối hợp.
✔️ Nắn chỉnh cột sống và Chiropractic cho thêm góc nhìn về cơ học khớp, vận động từng đoạn cột sống và mối liên hệ thần kinh – cơ.
✔️ Những hệ chú trọng vùng chậu khiến mình quan tâm thêm tới nền chịu tải, trọng tâm và sự bù trừ từ dưới lên.
✔️ Anatomy Trains lại tổ chức các liên kết cơ – mạc toàn thân theo một bản đồ khác.
✔️ Dưỡng sinh Đông y, giải cơ sâu, bấm huyệt, kinh lạc mở thêm cách nhìn về trạng thái của cả vùng mô và khí huyết.
✔️ Rồi còn Tác động cột sống, căng cơ kháng lực, châm cứu, giác hơi trị liệu, phản xạ thần kinh, đồng ứng, Thập thủ đạo, Khí công y đạo… cùng nhiều hướng khác nữa.
🗣️ Tôi kể ra không phải để nói mình biết thật nhiều. Nhưng qua nhiều hệ, tôi nhận ra mỗi phương pháp thường nhìn rất sâu vào phần mà hệ lý luận của nó quan tâm.
Và người đi sâu một phương pháp lâu ngày tự nhiên sẽ quen giải thích cơ thể bằng lăng kính ấy. Tôi thấy chuyện đó bình thường.
Nhưng đặt nhiều cách nhìn cạnh nhau lại làm tôi ngày càng ít tin rằng một phương pháp duy nhất có thể trở thành đáp án tối ưu cho mọi cơ thể.
Kiến thức về giải phẫu, thần kinh, fascia, cơ sinh học và trị liệu vẫn tiếp tục được nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện.
Vì vậy tôi không quá quan tâm việc phải phân xử FM hơn nắn chỉnh, Đông y hơn phương pháp phương Tây hay hệ nào mới là hay nhất.
❓ Tôi thường quay lại một câu hỏi thực tế hơn:
Ca trước mặt mình đang cần cái gì?
☑️ Mắt xích chính nằm ở fascia thì dùng cái mạnh của FM.
☑️ Cơ sâu đang bó thì xử lý phần cơ.
☑️ Khớp hoặc đoạn cột sống mất vận động thì kiểm tra phần khớp.
☑️ Chậu đang kéo chuỗi chịu tải thì xem lại chậu.
☑️ Cả vùng mô đang co giữ thì phải quan tâm cả vùng, sự vận động và khí huyết.
☑️ Hệ thần kinh vẫn duy trì phản ứng bảo vệ thì phải tìm xem tín hiệu ấy đang đến từ đâu…
Đó mới là ý tôi muốn nói khi dùng chữ phối hợp.
Phối hợp không phải học mười phương pháp rồi một buổi đem cả mười ra làm. Mà phải hiểu bản chất của từng phương pháp, biết mình đang dùng nó để giải quyết phần nào, tại sao cần đưa nó vào và sau đó phải kiểm tra lại.
Đây cũng chính là cách tư duy Nguyễn Chính – Y Cốt Liên Khoa dần hình thành trong quá trình làm nghề: học thêm để có thêm góc nhìn, nhưng khi đặt tay vào một ca thật thì phải biết phần nào nên ưu tiên, phần nào cần phối hợp và phần nào không cần làm thêm.
FM với tôi là một phương pháp rất đáng học vì nó bổ sung thêm một mảnh quan trọng vào cách tôi nhìn cơ thể. Nhưng người bệnh không phải một bản đồ FM. Cũng không phải vài đốt sống để chỉnh. Càng không phải một đám cơ để cứ thấy căng là day.
Bởi theo tôi thì một cơ thể không vận hành riêng lẻ mà là cùng vận hành đồng thời với cơ, fascia, khớp, cột sống, thần kinh, tuần hoàn, tải trọng, vận động và rất nhiều mối liên hệ khác.
️🎯 Vì vậy tôi vẫn giữ nguyên một nguyên tắc: Người bệnh cần gì mới quyết định mình dùng gì. Không phải mình học phương pháp nào thì mọi người bệnh đều phải đi vào phương pháp đó.
Và sau cùng tôi vẫn quay lại những câu hỏi rất thật:
➡️ Người bệnh đã đỡ được bao nhiêu?
➡️ Chức năng trở lại đến đâu?
➡️ Từ kết quả hiện tại, liệu mình còn có thể giúp họ cải thiện thêm được nữa không?
➡️ Nếu còn, phần nào đang giữ cơ thể lại?
➡️ Và kết quả ấy duy trì được bao lâu?
Với tôi, tất cả những gì mình học cuối cùng vẫn phải quay về phục vụ hai chữ: HIỆU QUẢ.
Nguyễn Chính – Y Cốt Liên Khoa

Bài viết này cũng chính là một phần tư duy tôi muốn học viên hiểu khi học nghề. Học FM, nắn chỉnh, giải cơ, dưỡng sinh hay bất kỳ phương pháp nào đều có giá trị nếu mình hiểu nó đang giải quyết phần nào và biết lúc nào nên dùng.
Khi đi vào ca thật, chuyện khó hơn nằm ở việc đọc tình trạng, lựa chọn thứ tự, phối hợp khi cần và kiểm tra lại xem kết quả đã đi đúng hướng hay chưa.
Nếu đang làm nghề hoặc muốn học sâu hơn theo hướng giải cơ – nắn chỉnh cột sống, xương chậu – vận động – phối hợp nhiều phương pháp theo ca thực tế, có thể xem thêm Khóa học Nắn Chỉnh Cột Sống & Đông Y Trị Liệu chuyên sâu tại Y Cốt Liên Khoa để tìm hiểu rõ nội dung và cách tổ chức thực hành.
Xem thêm : Khóa học Nắn Chỉnh Cột Sống & Đông Y Trị Liệu chuyên sâu tại Y Cốt Liên Khoa






